Tiến độ thi công

Gói thầu IA

Gói thầu IB

Gói thầu IIA

Gói thầu IIB

Gói thầu III

Gói thầu IV

Gói thầu V

Gói thầu VI

Gói thầu VII

 

Sự kiện

Dự án

Báo chí

Khách mời

 

Sơ đồ tổ chức

Chủ đầu tư

Tư vấn

Đơn vị thi công

Tổ chức khác

 

Tổng quan dự án

Vị trí

Tổng quan

Thông số

Tư vấn

Các gói thầu HĐ

Gói thầu IA

Gói thầu IB

Gói thầu IIA

Gói thầu IIB

Gói thầu III

Gói thầu IV

Gói thầu V

Gói thầu VI

Gói thầu VII

Điều kiện tự nhiên

Kinh tế xã hội

 

Liên kết

Sơ đồ Site

Liên hệ

Liên kết

Sổ lưu niệm 

 

Gallery

Hình ảnh thiết kế

Album Việt Nam

 

Các dự án khác

Mạng lưới giao

thông đường bộ

tại Việt Nam

Các dự án đường bộ

quy mô lớn tại miền

Trung Việt Nam

 

 

 
 

Trang chính| English | Sơ đồ | Sổ lưu niệm | Liên hệ

Tổng quan Dự án - Điều kiện tự nhiên

Khí hậu | Địa hình | Địa chất

Khí hậu

Khu vực đèo Hải Vân nằm giữa điểm cắt nhau giữa hai vùng khí hậu khác nhau, bằng chứng là sự khác nhau lớn về khí hậu giữa sườn dốc bắc và nam. Khu vực dự án nằm trong dãy núi Ngũ Hành Sơn, nằm giữa 4 khu vực thuộc 2 vùng khí hậu khác nhau của đất nước, vì vậy giữa hai sườn dốc bắc và nam có sự khác nhau lớn về khí hậu, ở dốc phía bắc không khí thường ẩm và lạnh nhiều hơn phía nam. Ðộ ẩm trung bình ở phía bắc cao hơn phía nam khoảng 2%. Một điều nữa cũng quan trọng là phía bắc bị ảnh hưởng trực tiếp của các hoạt động gió mùa đông bắc, trong khi đó phía nam thì không do điều kiện địa hình. Ðiều này cho thấy phần phía bắc của đường vào đèo có khí hậu đồng đều hơn. Vấn đề này sẽ rất quan trọng khi so sánh về sự ảnh hưởng lớn về tầm nhìn của khí hậu đối với các phương án tuyến khác nhau.

Biểu đồ khí hậu Ðà Nẵng và TT-Huế trong năm 2001

Lượng mưa

Month

1

2

3

4

5

6

Hue

mm

53.1

91.0

200.6

11.5

333.9

90.3

Danang

mm

44.5

40.7

92.5

92.5

272.8

208.1

7

8

9

10

11

12

18.7

248.5

234.6

550.4

320.3

534.5

36.1

512.1

107.9

728.4

307.3

400.1

Khí hậu tổng thể của khu vực nghiên cứu là khí hậu gió mùa nhiệt đới . Lượng mưa trung bình hàng năm lớn nhất xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12, sau đó là một chu kỳ tương đối khô từ tháng 2 đến tháng 4. Nguyên nhân chủ yếu gây ra mưa phùn ở Việt Nam là do sự gián đoạn về địa chất, mà sự gián đoạn địa chất đó đi theo các đường gần cực tuyến, nằm không xa về phía bắc đối với khu vực nghiên cứu. Lượng mưa do sự gián đoạn về địa chất thường được tăng lên do sự nâng lên của núi. Tuy nhiên không nên đánh giá cao vai trò của sự nâng lên của núi, bởi vì nguồn gốc chủ yếu của mưa là do sự gián đoạn địa chất qua lại. Ðặc thù phần phía bắc của khu vực nghiên cứu thường có giai đoạn 3-5 ngày sương mù, trời u ám cộng với mưa phùn liên tục. Tình hình này xẩy ra khi khí áp thấp xuất hiện trên Vịnh Trung hoa

Nhiệt độ

Month

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Hue

0C

21.6

20.7

23.4

27.2

27.2

27.7

28.5

27.1

26.7

25.2

21.7

20.3

Danang

0C

22.7

22.3

24.4

27.4

28.4

28.7

29.9

27.9

27.8

26.4

23.4

22.0

Các yê'u tố khác

 

Nhiệt độ trung bình hàng năm

Ðộ ẩm trung bình

Lượng mưa trung bình

Số giờ nắng

TT-Hue

24.8 oC

87 %

2687.4 mm 1787 h
Danang

25.9 oC

83 %

2750.8 mm

2094 h

Ðầu trang

Ðịa hình

Khu vực Dự án khác với vùng ven biển phía bắc và Nam đèo Hải Vân về mặt địa chất, khí tượng thuỷ văn và địa hình.

Dãy Trường Sơn nằm ở phía tây miền Trung Việt Nam trải dài từ phía bắc đến phía nam tạo thành xương sống của Ðông Dương tách biệt Việt Nam và Lào. Dọc theo ranh giới phía nam của tỉnh Thừa Thiên - Huế, dãy Trường Sơn nhô ra hướng Biển Ðông. Dãy núi Hải Vân với các đỉnh núi tròn cóh ình dạng và độ cao khác nhau cũng đổ ra hướng Biển Ðông. Ðỉnh núi cao nhất trên bờ biển có độ cao 253 m. Ðèo Hải Vân trên Quốc lộ 1 có độ cao xấp xỉ 475 m vượt qua hai ngọn núi có độ cao là 724 m ở phiá Bắc và núi Hợi có độ cao 1192 m về phía Tây.

Nếu như hai khu vực nhỏ tại lưu vực sông Hội Dưa ở phía Bắc và lưu vực sông Cái ở phía nam bị loại trừ thì toàn bộ khu vực nghiên cứu chỉ còn các dãy núi tách biệt khác nhau về độ cao. Ðó là một phần của dãy núi Hải Vân chạy theo hướng vĩ độ đâm thẳng ra biển. Dãy núi hẹp và phức tạp, chủ yếu đi theo hướng vĩ độ. Một số đỉnh núi có độ cao vượt quá 1000 m.

Các sườn núi phía bắc và nam có kết cấu phức tạp và dốc đứng. Các sườn dốc thường có độ dốc từ 30-35 độ tại những nơi có độ cao thấp, một số nơi độ dốc oó thể vượt quá 40-45 độ. Nhiều vách đá dựng đứng xuất hiện không những ở khu vực có các đỉnh núi cao mà còn ở những khu vực có độ dốc thấp dọc theo các thung lũng, làm tăng độ ghồ ghề của địa hình và dễ gây ra các hiện tượng trượt lở, xói mòn mái dốc và đá lăn.

Nhìn chung sông và suối trong khu vực nghiên cứu có giới hạn độ dài. Nằm ở sườn dốc phía bắc là sông Hội Dưa với các con suối nhỏ. Hầu hêt các con suối có độ rộng hẹp, độ dốc cao theo hướng vĩ độ tạo thành nhiều thác nước có dòng chảy mạnh vào mùa mưa. Nhiều cục đá cuội lớn bị cuốn đi theo dòng suối hướng ra biển. tại sườn dốc phía nam là các con suối của sông Cái. Cấu trúc lưu vực và đặc tính địa lưu thuỷ văn của các con suối này ũung giống như các con suối ở sườn bắc.

Các lưu vực trong khu vực nghiên cứu chủ yêú theo hướng Tây Bắc-Ðông Nam, một số theo hướng kinh tuyến. Ngoài khả năng xói mòn và cuốn trôi đá thì các con suối còn có sự khác nhau lớn về mặt địa lưu thuỷ văn gây ra các trận lũ lớn có thể ảnh hưởng đến nhiều đoạn đường và các kết cấu công trình.

Ðầu trang

Ðịa Chất

Khối núi Hải Vân là một thể nền với khoảng không gian hơn 100 Km2. Một số lượng lớn các vết nứt thấy được hoặc dự đoán được thể hiện trên bình đồ địa chất khu vực. Một số vết nứt này đã được đánh tại những khu vực không có đá vỉa và dự đoán là thu được bằng không ảnh.

Cấu trúc nến bên dưới và địa chất khu vực được phản ánh qua địa hình cho thấy sự phát triển của hai dạng thoát nước chính đó là theo hướng Bắc Tây Bắc-Nam Ðông Nam và xuyên tâm (Toả tròn). Có thể là các dạng thoát nước này chạy theo các vết nứt nguội trong khu vực, các đoạn đứt gãy hoặc cấu trúc dải tổng hợp.

Dạng thoát nước xuyên tâm phát triển mạnh về phía đông của dãy núi Hải Vân và đèo Hải Vân, điều đó cho thấy đá granit ở đó sẽ ở dạng khối nhiều hơn ỏ phía Tây của đỉnh núi Hải Vân, dạng thoát nước có xu hướng chạy theo hướng Bắc Tây Bắc và Nam Ðông Nam, cho thấy ảnh hưởng của đặc tính nền.

Mặc dù chưa xác định được lịch sử kiến tạo của đá granit và sự phát triển của của các đặc tính nền mà ảnh hưởng đến dạng thoát nước thứ 2 oó thể liên quan trước tiên đến sự biến dạng nhiệt trước khi đông cứng, dưới ảnh hưởng này thì các vết nứt và đoạn đứt gãy song song và gần như song song phát triển. Các sự kiện kiến tạo sau này được cho là đã sửa đổi các cấu trúc tiền hiện tại cũng như phát triển các hướng mới. Sự khác nhau đối với các đường sọc được minh hoạ trên bản đồ phân tích tuyến tính có thể đã được thực hiện theo cách này. Như dự đoán thì khu vực này đã trải qua nhiều sự biến động lớn về địa chất trước đây, điều này đóng góp vào sự hình thành địa hình của khu vực. Dãy núi cho thấy các khe nứt lớn, đoạn đứt gãy hoặc các uốn nếp tạo nên sự phong hoá trước và phân huỷ của các khối đá gần bề mặt. Những nét đặc trưng này có khuynh hướng biến mất khi khi dãy núi chạy về hướng Tây. Thể nền thâm nhập vào trong và tiếp xúc qua vết đứt gãy với lớp trầm tích tiền Cambrian về phía Tây Nam gần sông Cu Ðê. Khối đá granit Hải Vân nằm trực tiếp trên đường ranh giới của hai vùng cấu tạo, khác nhau không chỉ vì khuynh hướng kết cấu mà còn vì trường địa vật và tuổi nếp gấp. Trong khu vực dự án, phần phía đông của đá granit dường như ở dạng khối nhiều hơn, phía tây dường như bị biến dạng chứng tỏ oó sự gơ nai hoá và thâm nhập mạnh mẽ.

Dọc suốt dãy núi Hải Vân thì sự phong hoá sâu sắc bị hạn chế nhiều đối với các tường và sàn thung lũng thấp, các con suối và dốc vừa, và dường như bị giảm nhiều về hướng tây. Nhìn chung các con dốc sườn núi có độ cao trên 300 m bao gồm đá granit tương đối cứng và lớp đá granit trên sườn mái dốc thể hiện bằng sự hiện diện của các viên đá cuội oó kích thước lớn và các phiến đá nằm trên lớp đất non, mỏng có độ kết dính thấp và nhiểu đá granit vụn. Dưới cao độ này, chiều dày phong hoá lớn hơn và các lớp trầm tích trên mái dốc xuất hiện. Ðá cứng xuất hiện gần với bề mặt đất tại hầu hết các vị trí và thường lộ diện ở các dốc đứng sườn đồi, đặc biệt là tại những nơi oó cao độ cao hơn thì các chỉ số phong hoá lớn hơn đối với những khu vực thấp tại thung lũng. Tại những nơi có sự uốn nếp của đá từ tương đối cho đến mạnh thì sự phong hoá dường như lớn hơn.

Ðá của khối núi Hải Vân nhìn chung được xác định là dạng đá granit đốm xám, hạt mịn, ngoại lai và fenspat thạch anh biotit. Cấu tạo đá từ dạng khối, các hạt bằng nhau cho đến dạng gơ nai. Tại những phần sẫm hơn của đá phản ánh sự tăng trưởng bên trong đối với biotit, hocblen và diorit.

Mặc dù khối núi Hải Vân là dạng đá khối granit nguyên sơ, nhưng các khối đá được liên kết vào nhau và các thung lũng núi thường chạy theo hướng Tây Bắc đến Ðông Nam với các khoảng cách bằng nhau dọc theo dãy núi. Những nét đặc trưng về địa hình của các thung lũng theo hướng Tây Bắc Ðông Nam là do cấu trúc địa chất dưới đất sự nứt gãy mạnh mẽ của khối đá. Các hệ vết nứt điển hình là dạng gần như theo phương thẳng đứng và gần như theo phương nằm ngang. Hầu hết các vết nứt theo phương thẳng đứng có vẻ như chạy theo hướng từ Bắc đến Tây Bắc trong khi các vết nứt theo phương gần như nằm ngang có khuynh hướng đi theo hướng Ðông Bắc nhiều hơn. Kết quả này tạo thành một điểm giao cắt có góc độ (+/- 60o). Khoảng hở của cả ba hệ vết nứt trên là từ 1-3 m, mặc dù tại một số khu vực gãy nứt nhiều thì độ hở của khe nứt có thể dưới 0.5 m. Các vết nứt này thường bị chắn đầy bởi các loại vật thể khác.

Sự rò rỉ nước có thể nhận thấy được ở một số vết nứt lớn. Các khe nứt lớn thường có  thể nhìn thấy tại một số mỏm đá lộ thiên, nơi mà khả năng sụp đổ đang tiến triển. Bằng chứng về các vết nứt có chứa nước có thể quan sát được tại một số vị trí suốt dãy núi trong khu vực dự án.

Các lớp trầm tích mái dốc thường xuất hiện dọc theo các con dốc của dãy núi. Các con dốc đất trầm tcíh có thể được chia làm hai loại cơ bản; 1) Các viên đá cuội và khối đá lớn đã trượt từ trên dốc cao xuống hoặc bị cuốn đi với lớp đất bùn xuống sàn thung lũng, 2) Loại trầm tích thứ hai trên các con dốc nhẹ bao gồm các vật liệu mịn hơn đã được rửa sạch và phân tách từ các mái dốc chính bằng các dòng chảy trên bề mặt và dưới đất. Các lớp trầm tích lớn hơn có thể phụ thuộc vào lớp sự thoát ra một khối lượng lớn từ dòng chảy bề mặt hoặc dưới đất trong một trận mưa lớn.

Ðầu trang

 

2002/HVTP Webmaster